Action speaks louder than words!

Lutalyse

How Lutalyse (Dinolytic, Pronalgon) Works

Prostaglandins are naturally occurring chemicals found in minute amounts in human and animal tissue. While they have potent effects, they are also readily metabolized in the body. The reproductive cycle of female mammals is controlled by the prostaglandin PGF2awhich is produced by the uterus and initiates the destruction of the corpus luteum

Prostaglandins and the Estrous Cycle

Figure 4.1 - The Ovary and the Estrous Cycle 

Eggs develop in the ovary within a fluid-filled sac called the follicle. Under the influence of estrogen produced by the ovary, the animal exhibits signs of heat.  Ovulation, when the mature egg is shed, occurs at or about this time. The egg passes through the fallopian tube to the uterus and, if mating takes place, fertilization can occur.

Meanwhile, the cavity in the ovary previously occupied by the follicle fills with clotted blood (corpus hemorrhagicum). During the next 5 days, the clot is replaced by luteal tissue and becomes the corpus luteum, which secretes the hormone progesterone. This hormone maintains pregnancy should fertilization occur.

Under the influence of luteinizing hormone (LH), the corpus luteum matures for 4 to 5 days after ovulation, producing progesterone and preventing the development of additional follicles. Toward the end of the estrous cycle, if fertilization has not occurred, the uterus releases PGF2a, which initiates the destruction of the corpora lutea. This sets the stage for the release of follicle-stimulating hormone (FSH) by the pituitary and the development of a new wave of follicles.  The next heat period follows.

PGF2a acts primarily to initiate regression of the corpora lutea, thereby lowering the levels of blood progesterone, which allows estrus to occur, or, if pregnant, brings pregnancy to a close and starts parturition.

Lutalyse (Dinolytic, Pronalgon)  Solution additional pharmacologic effects

 In addition to luteolytic activity, a review of scientific literature indicates PGF2a  stimulates  contraction of the uterine musculature in food-producing species. The positive feedback physiological relationship between oxytocin and prostaglandin was studied by Ellendorff and colleagues.  These authors reported a single intramuscular injection of  5 milligrams PGF2a (Dinoprost)  either 6 days postpartum or during diestrus resulted in a significant elevation of plasma oxytocin.  Jackson reported prostaglandin F2a to be more effective in stimulating smooth muscle contractility in the rat colon model compared to analogs (cloprostenol, tiaprost, fenprostalene) of PGF2a.

 

Additionally, Einarsson et al. reported that PGF2a and oxytocin always caused a stimulation of the motility of uterine strips from both non-pregnant and early pregnant gilts.  Rocki and Malofiejew reported the contractile activity of fragments of pig myometrium; oxytocin elicited a dose effect type of contractility.  The addition of indomethacin, demonstrated over many years of research to be an effective inhibitor of prostaglandin synthesis, reduced the responsiveness of  the myometrium to oxytocin.  Incubation of the myometrium with prostaglandin F2a, even in the presence of indomethacin, restored the contractile responsiveness of the myometrium to oxytocin.  Additionally, these authors reported that both prostaglandins of the E and F2a, families stimulated contractions of the myometrium and increased the inherent or intrinsic contractile activity.

These data reinforce previous interpretations that oxytocin elicits its uterine contractility through the release of prostaglandins of the F2a    family.  Further data were reported by Pupula and MacLennan that prostaglandin F2a and oxytocin were capable of inducing in vitro myometrial contactility in porcine myometrium; these workers further reported that the inhibitory effect of relaxin was overcome by the use of both oxytocin and PGF2a. 

 

Gogny and Bidon investigated the myometrial contactility in vitro of musculature collected from sows that were either culled or were within two days postpartum.  Prostaglandin F2a – represented by dinoprost, cloprostenol, and alphaprostol – were each capable of significantly increasing postpartum myometrial contractility; however, based on dose response curves, dinoprost appeared to be more active than either cloprostenol or alphaprostol in inducing this myometrial contractility.

This phenomenon of uterine contractility in response to PGF2a is related not only to pigs but is well documented in the scientific literature in cattle and ewes as well.

 

 

In vivo

Taura et al. investigated the effect of 10 milligrams dinoprost administered intravenously (ear vein) on in vivo uterine contractility in sows.  The uterine contractility pattern following 10 milligrams dinoprost intravenous (ear vein) was similar to the uterine contractility pattern responding to 25 IU oxytocin administered intravenously (ear vein) as measured by duration of uterine contractions, mean uterine contractive pressure, and change over time of uterine contraction waves.

Taken in toto, the data reported for in vitro and in vivo studies lead to an intrepretation that 2 mL Dinolytic (10 mg dinoprost) administered intramuscularly in the postpartum sow should not pose either a human food safety hazard or a target animal safety hazard.  Additionally, the data document  a biological response of the uterine musculature to PGF2a.  Based on both the older scientific literature documenting a smooth muscle contractility and the more recent literature documenting a biological association of prostaglandins of the F family with the ovulatory process, it appeared reasonable to evaluate under field conditions the effect of Dinolytic administered early in the postpartum interval on the effect to return to estrus and fertile service.

Lutalyse (Dinolytic, Pronalgon) Solution & Farrowing

 
Lutalyse, Dinolytic, and Pronalgon are trademarks for Pharmacia & Upjohn’s  PGF2a   preparation. Dinoprost tromethamine is the active ingredient, and the sterile solution contains 5 mg of dinoprost per mL. Lutalyse (Dinolytic, Pronalgon) Sterile Solution is made synthetically but is identical in structure and action to the naturally occurring prostaglandin.

Lutalyse (Dinolytic, Pronalgon) Sterile Solution naturally triggers destruction of the corpora lutea found on the ovary of the pregnant pig. Destruction decreases the level of progesterone, which starts the farrowing process. Injecting Lutalyse (Dinolytic, Pronalgon) Sterile Solution induces farrowing in 85% or more of sows within 23 to 30 hours.

After injection, the prostaglandin is rapidly absorbed. In a few hours the corpora lutea break down.  Since Lutalyse is identical to the natural PGF2a

LUTALYSE

Kích dục tố Prostaglandin F2α tự nhiên

Dùng cho heo, trâu bò và ngựa

Mô tả sản phẩm

Dinoprost là chất prostaglandin F2α tự nhiên, được trình bày dưới dạng dung dịch vô trùng Dinoprost 5mg/ml (trình bày như 6.71mg/ml của muối dinoprost tromethamine) có chứa 1.65% benzyl alcohol như chất bảo quản.

Chỉ định

LUTALYSE có tác dụng làm tiêu thể vàng và thúc đẻ nên được chỉ định sử dụng cho trâu, bò, ngựa và heo nhằm:

Trâu, bò, ngựa:

  1. Kiểm soát hiệu quả hơn thời gian lên giống và rụng trứng trong chu kỳ lên giống của trâu bò, ngựa
  2. Làm tiêu thể vàng đang hoạt động ở trâu bò và ngựa giúp con vật lên giống lại
  3. Trục thai ở trâu bò bà ngựa
  4. Kích đẻ ở trâu bò
  5. Điều trị viêm tử cung mãn tính và mủ trong tử cung của trâu bò
  6. Kiểm soát gieo tinh hay phối giống ở trâu bò

Heo

  1. Kích đẻ heo nái trong vòng 3 ngày so với ngày đẻ dự kiến
  2. Tăng cường co bóp tử cung, tống sạch nhau thai và sản dịch sau khi sinh, ngăn ngừa viêm tử cung
  3. Rút ngắn khoảng cách từ sai sữa đến lên giống lại và cai sữa đến gieo tinh trên những đàn nái có vấn đề sinh sản
  4. Làm tiêu thể vàng và phá huỷ các u nang trên buồng trứng là nguyên nhân làm heo nái chậm lên giống sau cai sữa hoặc không lên giống sau cai sữa.
  5. Nâng cao tỉ lệ thụ thai và số heo con đẻ ra chọn nuôi nhiều hơn
  6. Kích thích tiết prolactin tăng sản lượng sữa
  7. Pha trong tinh dịch nhằm tăng tỉ lệ đậu thai

Hướng dẫn sử dụng và liều dùng

Trâu bò và ngựa

Trâu bò

  1. Làm tiêu thể vàng trên trâu bò với liều 25mg (5ml) tiêm bắp. Tác động tiêu thể vàng được sử dụng nhằm
  1. Kiểm soát có hiệu quả thời gian lên giống và rụng trứng của chu kỳ động dục trên trâu bò
  2. Điều trị trâu bò có thể vàng nhưng không biểu hiện lên giống (động dục thầm lặng hoặc không thấy động dục)
  3. Điều trị viêm tử cung mãn, viêm mủ tử cung trên trâu bò
  4. Kiểm soát phối giống trên trâu bò

LUTALYSE được chỉ định làm tiêu thể vàng ở trâu bò để kiểm soát thời gian lên giống trong chu kỳ lên giống của trâu bò có thể vàng, tác động của LUTALYSE cho phép có nhiều chương trình kiểm soát lên giống. Đối với những thú có chu kỳ thông thường, ít nhất là 35 ngày sau sinh.

Chương trình 1:

  1. Tiêm bắp 5ml LUTALYSE
  2. Tiêm lặp lại vào 11 (10 tới 12) ngày sau
  3. Phối giống 78 (75 tới 80) giờ sau khi tiêm LUTALYSE mũi thứ 2

Khi tiêm thuốc không cần phát hiện lên giống hoặc quan sát con thú có chu kỳ bình thường

Chương trình này khuyến cáo cho các đàn với kinh nghiệm gieo tinh nhân tạo thành công và khi chu kỳ đã được biết trước

Chương trình 2:

  1. Tiêm bắp 5ml LUTALYSE
  2. Tiêm lặp lại vào 11 (10 tới 12) ngày sau
  3. Phối giống 72 giờ (70 tới 72) giờ và 90 (88 tới 96) giờ sau khi tiêm LUTALYSE mũi thứ 2

Không cần phát hiện lên giống hoặc quan sát thấy con thú có chu kỳ bình thường khi tiêm thuốc. Phối giống 2 lần cho thấy có sự gia tăng tỉ lệ đạu thai ở 1 số đàn

Chương trình 3:

      1. Tiêm bắp 5ml LUTALYSE

  1. Tiêm lặp lại vào 11 (10 tới 12) ngày sau
  2. Phối giống ngay sau khi phát hiện lên giống

Chương trình 4:

  1. Tiêm bắp LUTALYSE
  2.  Phối giống ngay sau khi phát hiện lên giống

Nếu không biết chu kỳ của các thú đang điều trị thì trong chương trình 3, 4 bắt buộc phải theo dõi phát hiện lên giống còn chương trình 1, 2 chỉ yêu cầu về thời gian phối giống.

“Bò đực phối trực tiếp” có thể sử dụng theo bất cứ chương trình nào của LUTALYSE hoặc cần phối giống lặp lại ở lần lên giống kế tiếp, chu kỳ sau, trên những thú không mang thai ở lần phối đầu tiên.

2. Trục thai và kích thích trâu bò đẻ

LUTALYSE được sử dụng liều cao hơn các liều dùng để làm tiêu thể vàng ở gia súc không mang thai

Căn cứ các chỉ định này, liều hiệu nghiệm biến động từ 25 - 35mg (5 - 7ml)

Tiêm bắp. Giai đoạn mang thai là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả của liều dùng. Các thử nghiệm thực tế cho thấy ở bò mang thai đến 150 ngày, LUTALYSE gây sẩy thai nhân tạo thành công. Tuy nhiên, ở bò mang thai từ 150 - 270 ngày thì thậm chí dùng LUTALYSE liều cao cũng kém hiệu quả hơn.

Ngựa

LUTALYSE làm tiêu thể vàng trên ngựa cái với liều 5mg (1ml) tiêm bắp. Tác động tiêu thể vàng nhằm:

    1. Kiểm soát hiệu quả hơn thời gian lên giống và rụng trứng của chu kỳ động dục trên ngựa cái. Điều trị ngựa cái có thể vàng nhưng không biểu hiện lên giống (khó phối giống)
    2. Tạo sẩy thai nhân tạo trên ngựa cái (đáp ứng rất khác nhau do đó cần điều trị lặp lại)

Heo

  1. Kích đẻ trên heo

Tiêm bắp 10mg (2ml/nái) trong vòng 3 ngày so với ngày đẻ dự kiến

LUTALYSE có thể để kích đẻ trên heo trong vòng 3 ngày so với ngày đẻ dự kiến. Đáp ứng với thuốc khác nhau trên từng cá thể giao động từ 24 - 36 giờ từ lúc tiêm thuốc đến lúc đẻ. Nó thuận tiện cho người nhân viên trong việc kiểm soát thời gian sinh của heo nái và heo hậu bị mang thai ở giai đoạn cuối. Sử dụng sớm hơn 3 ngày trước ngày đẻ dự kiến, heo con đẻ ra sẽ yếu ớt, tỷ lệ sống sót giảm. Có tỷ lệ heo nhỏ không đáp ứng do 1 số lý do cá biệt chưa được xác định.

Cần ghi chép về:

-  Thời gian trung bình của nái bầu ở chuồng chuyên biệt.

-  Ngày phối giống và ngày đẻ dự kiến của từng nái.

  1. Rút ngắn khoảng cách từ cai sữa đến lên giống lại và cai sữa đến gieo tinh trên những đàn nái có vấn đề sinh sản.

Sử dụng sau sinh: Tiêm bắp 10mg (2ml/nái) vào lúc 24 - 48 giờ sau sinh.

LUTALYSE sử dụng cho heo nái sau khi sinh, sẽ kích thích tử cung co bóp, giúp giải toả sản dịch trong tử cung tốt hơn. Các thử nghiệm thực tế cho thấy nhũng heo nái có vấn đề sinh sản được điều trị với LUTALYSE sẽ lên giống lại nhanh hơn và do đó được gieo tinh nhanh hơn.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH, CHÚ Ý

  1. Thận trọng, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tránh tiếp xúc với dung dịch
  2. Những người mắc bệnh hen suyễn hoặc có các bệnh về hô hấp, phụ nữ có thai không được phép tiêm thuốc cho gia súc
  3. LUTALYSE đổ trên da cần rủa ngay với xà phòng và nước
  4. Không cần thiết phải ngưng tiêu thụ sữa cho người và thú
  5. Không giết mổ gia súc đã sử dụng thuốc để tiêu thụ cho người trong vòng 24 giờ sau khi điều trị.
  6. Không nên sử dụng thuốc cho trâu bò bị rối loạn cấp tính hoặc bán cấp tính về tim mạch, hô hấp và tiêu hoá
  7. Phải kiểm tra tình trạng mang thai trước khi tiêm LUTALYSE vì thuốc gây sẩy thai hoặc kích đẻ khi sử dụng ở liều đủ cao đối với nhiều loại động vật.
  8. Không tiêm tĩnh mạch
  9. LUTALYSE không hiệu quả khi sử dụng trước ngày thứ 5 sau khi rụng trứng
  10. Ở thú mang thai, cần nghĩ đến khả năng tử cung có thể bị vỡ, đặc biệt nếu cổ tử cung không giãn nở.
  11. Kích đẻ trên heo sớm hơn 72 giờ so với ngày sinh dự kieenscos thể làm giảm khả năng sống sót đối với heo con
  12. Bảo quản ở nhiệt độ phòng, không quá 300C

Quy cách: Hộp 5 lọ, mỗi lọ 10ml. Lọ 30ml                               SĐKNK: PFU - 56

Bảo quản: Để nơi khô ráo, thoáng mát

Số lô & hạn dùng: Xem trên bao bì

  • Chỉ dùng trong thú y
  • Nhà phân phối:                                                            Nhà sản xuất

    Công ty TNHH thuốc thú y Agrovet.H                Pfizer Animal Health

    Số 62/215, Định Công Thượng, Hoàng Mai, Hà Nội